MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIỜ SINH HOẠT LỚP Ở TRƯỜNG THCS
05/11/2024
Chia sẻ
ỦY BAN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC
TRƯỜNG THCS THƯỢNG LÂM
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Đề tài:
MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ
GIỜ SINH HOẠT LỚP Ở TRƯỜNG THCS
Lĩnh vực : Chủ nhiệm
Cấp học : THCS
Tác giả : Nguyễn Thị Nga
Chức vụ : Tổ phó tổ KHTN
Đơn vị công tác: THCS Thượng Lâm
NĂM HỌC: 2019 - 2020
MỤC LỤC
Mục lục
Danh mục chữ viết tắt
A: Đặt vấn đề .....................................................................................................1
I. Lý do chọn tài..........................................................................................1
II. Mục đích nghiên cứu đề tài.....................................................................2
III. Đối tượng nghiên cứu ................................................................….…..2
IV. Phạm vi áp dụng .................................................................................. 2
V. Thời gian nghiên cứu ............................................................................ 2
IV. Đối tượng khảo sát thực nghiệm ...........................................................2
B : Giải quyết vấn đề .........................................................................................3
I. Cơ sở lí luận..............................................................................................3
II. Thuận lợi và khó khăn khi nghiên cứu đề tài..........................................3
III. Biện pháp thực hiện các giải pháp của đề tài.........................................3
- Đa dạng hoá về nội dung và hình thức tổ chức tiết sinh hoạt lớp......... 3
- Thu hút tối đa sự tham gia của mọi HS dưới sự hướng dẫn, giúp đỡ, cố
vấn của GV nhằm tăng cường vai trò tự quản của học sinh................. 5
- Tăng cường những nội dung sinh hoạt có liên quan đến các công việc chung của lớp, phù hợp với nhu cầu và sở thích của học sinh.............. 7
- Đảm bảo giao lưu dưới hình thức đối thoại ........................................ 8
- Cần khen chê học sinh một cách hợp lí trong tiết sinh hoạt lớp........... 8
- Trong tiết sinh hoạt lớp cần thiết kế nội quy lớp học dựa trên tinh thần cộng tác................................................................................................ 11
IV. Kết quả ...............................................................................................12
C : Phần kết luận và khuyến nghị...................................................................14
I. Kết luận .................................................................................................14
II. Khuyến nghị .........................................................................................15
Tài liệu tham khảo
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
&
THCS: Trung học cơ sở
GV: Giáo viên
GVCN: Giáo viên chủ nhiệm
HS: Học sinh
TÀI LIỆU THAM KHẢO
&
Bộ GD&ĐT - Chương trình hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp (Ban hành kèm theo Quyết định số 47/2002/QĐ-BGD&ĐT ngày 19/11/2002 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo) Hà Nội 2002.
Nguyễn Thanh Bình (chủ biên) (2006) - Giáo dục kĩ năng sống ở Việt Nam. UNESCO Hà Nội.
Nguyễn Thanh Bình- Giáo dục kĩ năng sống, NXB ĐHSP, Hà Nội 2007
Nguyễn Hải Châu (chủ biên) - Những vấn đề chung về đổi mới giáo dục THPT, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2007
Nguyễn Hữu Châu (chủ biện) (2005) - Giáo dục dân số và sức khỏe sinh sản vị thành niên thông qua họat động ngoại khóa trong nhà trường, hợp tác giữa UNFPA và Viện KHGD, NXB Đại Học Sư phạm.
Chương trình hoạt động giáo dục giới tính cho HS THPT, Viện KHGD - Quỹ Nhi đồng Anh tại Việt Nam, Hà Nội 2003.
Nguyễn Thị Kim Dung (2001), Một số biện pháp xây dựng mối quan hệ nhân ái giữa HS trong tập thể lớp ở trường THCS, luận án Tiến sỹ, Viện KHGD, Hà Nội.
Hà Thế Ngữ (2001), Giáo dục học - một số vấn đề lý luận và thực tiễn, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội,
…………..oOo…………..
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong quá trình đổi mới nội dung và phương pháp dạy học nhằm đáp ứng yêu cầu Giáo dục-Đào tạo con người phát triển một cách toàn diện: Đức và tài. Ngoài việc cung cấp cho học sinh những kiến thức đầy đủ, chính xác theo qui định của chương trình thì người giáo viên còn phải quan tâm giúp các em từng bước hình thành, điều chỉnh, hoàn thiện những hành vi đạo đức phù hợp với đặc điểm tâm lí lứa tuổi. Quá trình giáo dục, giảng dạy đó chỉ đạt kết quả tốt khi và chỉ khi người thầy giáo tổ chức thật sự hiệu quả giờ “sinh hoạt lớp”.
Qua thực tế làm công tác chủ nhiệm bậc THCS cho thấy: Trong các giờ sinh hoạt lớp HS gần như không được cùng nhau tổ chức, tham gia vào giờ sinh hoạt lớp. Nội dung giờ sinh hoạt lớp khô cứng, lặp đi lặp lai, không thực sự gắn với nhu cầu của HS. Các em không thực sự cảm nhận được vấn đề trong chủ đề là vấn đề của chính họ phải giải quyết mà là vấn đề của thầy(cô). Hình thức tổ chức giờ sinh hoạt lớp đơn điệu, nhàm chán, không hứng thú với HS. GV quá nghiêm khắc, không gần gũi, thân thiện, không đặt mình vào vị trí của HS để hiểu các em. Đây cũng là một trong các lí do làm đa số HS đều không thích tiết sinh hoạt lớp. Điều này được thể hiện rõ ở kết quả khảo sát 29 HS lớp 7C theo phiếu điều tra số 1( Thực hiện trước khi áp dụng đề tài – đầu tháng 8/2019)
Em có thích tiết sinh hoạt lớp không? | Số HS | Tỉ lệ % |
Rất thích | 0 | 0 |
Thích | 3 | 10,3 |
Bình thường | 8 | 27,6 |
Không thích lắm | 8 | 27,6 |
Rất ghét | 10 | 34,5 |
Chính vì tiết sinh hoạt chưa hiệu quả nên số các em vi phạm nội quy nề nếp còn nhiều, làm cho kết quả giáo dục đạo đức chưa cao.
Lớp | Sĩ số | Kết quả xếp loại hạnh kiểm trước khi thực hiện đề tài (Kết quả năm học 2018-2019) | |||
Tốt | Khá | Trung bình | Yếu | ||
7C | 29 HS | 12 HS | 10 SH | 7 HS | 0 HS |
Nhìn vào bảng kết quả trên ta tỉ lệ HS hạnh kiểm tốt còn thấp, HS hạnh kiểm khá và trung bình còn cao.
Cùng với sự phát triển của kinh tế xã hội trong điều kiện đất nước mở rộng giao lưu và hội nhập là những hạn chế, yếu kém, tệ nạn, … gây ảnh hưởng lớn đến xã hội, đến giáo dục,…. tác động không ít đến tư tưởng, tình cảm, hành vi đạo đức của học sinh. Dạy tốt giờ sinh hoạt lớp là điều kiện giáo viên kịp thời giúp học sinh thực hiện nội quy, quy định, điều chỉnh ý thức, thái độ, tình cảm trong rèn luyện đạo đức, trong quá trình học tập, ngăn chặn tình trạng suy thoái đạo đức, tệ nạn xã hội, lười và bỏ học,…..
Vì tất cả những lí do ở trên nên tôi lựa chọn đề tài: “Một số biện pháp nâng cao hiệu quả giờ sinh hoạt lớp ở trường THCS” để nghiên cứu và thực hiện.
II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Với suy nghĩ và trong thực tiễn làm công tác chủ nhiệm lớp, tôi soạn thảo để tổng kết kinh nghiệm: “Một số biện pháp nâng cao hiệu quả giờ sinh hoạt lớp ở trường THCS” để tìm ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giờ sinh hoạt lớp cuối tuần. Hy vọng kinh nghiệm của mình sẽ góp một phần nhỏ bé để nâng cao chất lượng công tác chủ nhiệm lớp.
III. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
- Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của các phương pháp chủ nhiệm
- Nghiên cứu các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giờ sinh hoạt lớp .
IV. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là: Công tác chủ nhiệm lớp ở bậc THCS
V. THỜI GIAN NGHIÊN CỨU
Thời gian nghiên cứu của đề tài là 2 năm học ( Năm học 2018 - 2019 và năm học 2019 - 2020)
VI. ĐỐI TƯỢNG KHẢO SÁT, THỰC NGHIỆM
Đối tượng khảo sát, thực nghiệm là các em học sinh lớp 7C.
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
- CƠ SỞ LÍ LUẬN
Trong quá trình đổi mới nội dung, phương pháp giảng dạy và hưởng ứng cuộc vận động: “ Nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục, vi phạm đạo đức nhà giáo ...”, xây dựng “ Trường học thân thiện” và hưởng ứng cuộc vận động “ Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” của ngành Giáo dục - Đào tạo. Đòi hỏi mỗi giáo viên trong ngành giáo dục phải nỗ lực hết mình để từng bước nâng cao chất lượng giáo dục. Ngoài kiến thức chuyên môn, mỗi giáo viên phải thường xuyên rèn luyện, tu dưỡng đạo đức nhà giáo, đặc biệt giáo viên chủ nhiệm lớp phải nỗ lực hết mình “Vì đàn em thân yêu” để hoàn thành tốt nhiệm vụ được Đảng, Nhà nước giao phó.
Muốn đạt được mục đích này, giáo viên chủ nhiệm lớp phải tận tụy với nhiệm vụ được giao, phải có kế hoạch cụ thể trong công tác chủ nhiệm lớp nhằm hỗ trợ cho học sinh có ý thức phấn đấu trong học tập, rèn luyện hạnh kiểm để trở thành học sinh có năng lực toàn diện. Vì vậy việc đưa “Một số biện pháp nâng cao hiệu quả giờ sinh hoạt lớp ở trường THCS” vào áp dụng đại trà là rất cần thiết.
II. THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN KHI NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
1.Thuận lợi
- Trang thiết bị của nhà trường được trang bị tương đối đầy đủ.
- Có sự giúp đỡ và góp ý tận tình của ban lãnh đạo và các đồng nghiệp trong nhà trường .
- Hầu hết các phụ huynh học sinh đều quan tâm đến việc học tập và rèn luyện của con em.
2. Khó khăn
- Giáo viên chủ nhiệm ở xã khác đến công tác nên việc nắm bắt tình hình hoàn cảnh từng em có nhiều khó khăn.
- Nhiều gia đình đi buôn bán nên việc quán xuyến giờ giấc, nề nếp của các em chưa được thường xuyên và kịp thời
- HS là đối tượng HS yếu kém trong khối nên nhận thức có nhiều hạn chế.
III. BIỆN PHÁP THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP CỦA ĐỀ TÀI
- Đa dạng hoá về nội dung và hình thức tổ chức giờ sinh hoạt lớp.
Mỗi lứa tuổi học sinh có những yêu cầu riêng, hứng thú riêng đối với hoạt động. Sức hấp dẫn học sinh, sự lôi cuốn các em tham gia tích cực vào hoạt động phụ thuộc nhiều vào sự thay đổi nội dung và các hình thức tổ chức. Do đó, nội dung tiết sinh hoạt tập thể hàng tuần phải cụ thể, bổ ích, phải gắn với nhu cầu và hứng thú của học sinh và chúng phải phù hợp với kinh nghiệm và trình độ hiểu
biết của họ, huy động đến mức cao nhất trí tuệ và tình cảm tập thể của HS….
Các hình thức tổ chức giờ sinh hoạt lớp có thể áp dụng như:
* Tổng kết, đánh giá thi đua và xây dựng kế hoạch:
- Đánh giá lại những hoạt động trong tuần:
+ Từng tổ trưởng lần lượt báo cáo tình hình học tập cũng như việc thực hiện nội quy trường lớp của các thành viên trong tổ
+ Lớp trưởng nhận xét ưu điểm, khuyết điểm về các họat động của lớp trong tuần vừa qua: nề nếp, học tập, đạo đức...
+ Lớp phó phụ trách văn thể, lao động: nhận xét từng mảng hoạt động do mình phụ trách.
+ GV tuyên dương những em học tập tốt, tham gia tốt các phong trào của lớp mà nhà trường đề ra; phê bình những em không học bài, làm bài tập ở nhà; nhắc nhở và yêu cầu HS về nhà suy nghĩ xem sẽ có những hình phạt như thế nào đối với những em thường xuyên vi phạm.
- Lập kế hoạch tuần tiếp theo (tham khảo module về Kĩ năng lập kế hoạch).
* Hình thức hỗn hợp: tổng kết thi đua và sinh hoạt theo chủ đề
- Đánh giá tình hình chung của lớp trong tuần: lớp trưởng đánh giá chung sau khi đã có sự thống nhất của các tổ. GVCN và HS bổ sung nếu thấy cần thiết.
- Thông báo những công việc chính trong tuần tới
Hai nội dung trên nên tiến hành nhanh gọn khoảng 10 phút
- Sinh hoạt theo chủ đề (thời gian khoảng 35 phút): Nội dung sinh hoạt nên gắn với các hoạt động chủ điểm tháng, gắn với những ngày kỉ niệm lớn, gắn với các sự kiện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội diễn ra ở địa phương, trong nước và trên thế giới, ... Hình thức sinh họat cũng đa dạng: có thể là thi văn nghệ giữa các tổ, có thể chỉ là đố vui khoa học; có thể là sự giao lưu với người trong cuộc...
* Thảo luận chuyên đề/ chủ điểm: nên giao lần lượt cho các tổ học sinh chủ trì, các tổ khác hỗ trợ, tham gia. Khi tiến hành thảo luận chuyên đề cần lưu ý:
- Vấn đề hay chủ đề thảo luận phải phù hợp với hứng thú, nhu cầu và trình độ nhận thức chung của học sinh, có nhiều ý kiến, quan điểm khác nhau.
- Vấn đề đưa ra thảo luận đòi hỏi sử dụng nhiều kiến thức và kinh nghiệm để đánh giá, kết luận, hay sáng tạo ý tưởng mới.
- Môi trường thảo luận phải thuận lợi, an toàn, thoải mái để tất cả học sinh đều có cơ hội bày tỏ những ý kiến, quan điểm và chính kiến của mình.
- Người dẫn chương trình phải khéo léo dẫn dắt, khêu gợi sự mạnh dạn, tự
tin, tích cực của mọi HS trong lớp để thảo luận sôi nổi và có hiệu quả. Cần tôn
trọng ý kiến của các thành viên trong thảo luận,
- Nếu gặp khó khăn (trường hợp không thống nhất ý kiến…) cần mời người cố vấn hay GV giải đáp (người cố vấn hay GV đóng vai trò là người trọng tài khoa học cho HS trong quá trình thảo luận).
* Giao lưu- đối thoại với người trong cuộc: Giao lưu là một hình thức tổ chức hoạt động giáo dục nhằm tạo ra các điều kiện cần thiết đề HS được tiếp xúc, trò chuyện và trao đổi thông tin với những nhân vật điển hình, với người thật, việc thật trong các lĩnh vực hoạt động nào đó. Sinh hoạt lớp dưới hình thức giao lưu có thể tổ chức nhân các ngày lễ lớn của dân tộc hay của lứa tuổi HS... Khi tiến hành tổ chức họat động giao lưu cần lưu ý:
- Những vấn đề trao đổi, giao lưu phải thiết thực, liên quan đến lợi ích và hứng thú của HS, đáp ứng nhu cầu của các em. Thu hút đông đảo HS tham gia.
- Người chủ trì cần có buổi làm việc trước với chuyên gia về mục tiêu, nội dung buổi nói chuyện, đặc điểm của đối tượng giao lưu như tuổi, lớp, những vấn đề được HS quan tâm nhất hoặc đang vướng mắc; quy mô tổ chức, phương thức tiến hành.
- Khi tiến hành giao lưu, cần kết hợp trò chuyện giữa người dẫn chương trình với khách mời giao lưu và trao đổi, trò chuyện giữa khách mời với người tham dự buổi giao lưu…
* Tổ chức các hội thi (văn nghệ, hiểu biết khoa học, HS thanh lịch...)
- Hội thi là một hình thức tổ chức họat động giáo dục, trong đó tạo ra sân chơi hấp dẫn, mang tính thi đua, cạnh tranh giữa HS hoặc các nhóm HS để các em có cơ hội thể hiện tài năng, vẻ đẹp, cùng nhau chia sẻ, tiếp nhận những kiến thức có liên quan đến chủ đề đã được lựa chọn.
- Đây là hình thức tổ chức họat động tổng hợp nhiều loại hình, đòi hỏi thời gian chuẩn bị công phu...
- Một số điều lưu ý: Công tác chuẩn bị phải tiến hành trước khi diễn ra cuộc thi từ 10 - 15 ngày. Trước khi tiến hành hội thi 1 ngày, cần phải tiến hành tốt những công việc sau:Tạo không khí sôi nổi, phấn khởi cho hội thi thông qua chỉnh trang lớp học và nơi diễn ra hội thi, âm nhạc và các phương tiện âm thanh… và họp ban giám khảo (BGK) để phổ biến biểu điểm, quy cách chấm và tính điểm, xác định các yêu cầu đối với BGK và quy trình hoạt động của BGK hội thi.
2. Thu hút tối đa sự tham gia của mọi HS dưới sự hướng dẫn, giúp đỡ, cố vấn của GV nhằm tăng cường vai trò tự quản của học sinh.
Sự tham gia của HS vào các hoạt động, công việc của lớp, của trường vừa là nhu cầu, vừa là quyền của mỗi học sinh. Sự cùng tham gia của tất cả HS vào giờ sinh hoạt lớp sẽ tạo ra môi trường chung để HS cùng trải nghiệm những xúc cảm tích cực, tăng cường giao lưu giữa các em, tạo ra môi trường lớp học mang bầu không khí tin tưởng, thân mật, cởi mở, sẵn sàng giúp đỡ và lắng nghe ý kiến của nhau. Từ đó tình cảm gắn bó, chia sẻ giữa các em được hình thành và củng cố.
Nói cách khác, học sinh phải là chủ thể của giờ sinh hoạt lớp, phải được tham gia vào giờ sinh hoạt lớp từ những vai trò và nhiệm vụ khác nhau như người thực thi nhiệm vụ được giao, người tổ chức, người khám phá và đánh giá hoạt động của họ, tập thể của họ
Hai lý do cơ bản để lôi cuốn sự tham gia của HS vào giờ sinh hoạt lớp:
- Nhu cầu là thành viên của nhóm, của lớp học: Nhu cầu được là thành viên của một nhóm đối với lứa tuổi HS trung học là rất quan trọng. Khi các em có lòng tin vững chắc rằng chúng là thành viên của lớp và có vị trí nhất định trong đó, chúng sẽ nỗ lực cố gắng và hợp tác vì một mục đích chung. Nếu chúng thấy rằng mình chưa đủ tốt hay vì một lí do nào đó mà không được các bạn chấp nhận, không có một vị trí nào trong lớp, các em sẽ đi tìm những người bạn mới ở bên ngoài lớp, ngoài trường và có thể bị lôi cuốn vào các nhóm tự phát, không lành mạnh, rồi những bi kịch sẽ đến với các em. Điều quan trọng đối với các em lúc này không phải là hành động của mình có được xã hội chấp nhận, có đáp ứng yêu cầu của GV hay không. Đó có thể là những hành động vô kỉ luật, hành động phá phách, không thể chấp nhận hoặc hành động ngu ngốc từ cách nhìn của nhà GD. Đối với các em, điều quan trọng là hành động đó giúp các em đáp ứng được nhu cầu trở thành thành viên của nhóm. Chính vì thế, GV cần phải làm thế nào để mọi HS trong lớp đều có một vị trí nhất định, được tham gia vào các hoạt động chung của lớp, được bạn bè thừa nhận, đặc biệt là đối với những HS có vị thế thấp trong tập thể lớp.
- Quyền được tham gia của trẻ em vào các công việc có liên quan tới chúng: Điều 12 và 13 trong Công ước về Quyền Trẻ em có ghi: Tôn trọng ý kiến trẻ em và quyền tự do bày tỏ ý kiến.
Tham gia không chỉ mang nghĩa tham dự mà còn nhằm giảm mối quan hệ quyền lực giữa GV và HS, thể hiện sự tôn trọng con người, những hành động, ý kiến của HS được ghi nhận. GV cần lắng nghe ý kiến và kinh nghiệm của HS và đó là những ý kiến và kinh nghiệm có giá trị, làm cho các em ý thức về sự chọn lựa của mình, đồng thời cần phát triển các kĩ năng để các em tham gia một cách có ý nghĩa.
Có sự khác biệt lớn giữa hoạt động học tập và hoạt động giáo dục. Hoạt động giáo dục cần phải thoải mái và cần phải thay đổi thái độ và hành vi của học sinh. Cần sử dụng các phương pháp tạo sự tương tác giữa GV và HS và giữa học sinh với nhau. Đồng thời cần quan tâm đến vai trò tham gia của người học trong việc thực hành kỹ năng. Trong tương tác và tham gia thực hành mỗi người đều là chủ thể tích cực. Để tăng cường sự tham gia còn cần tạo môi trường học tập vui vẻ, thoải mái, không có sự chỉ trách phê phán.
Sự tham gia của HS vào các HĐGD, trong đó có giờ sinh hoạt lớp có thể ở những mức độ khác nhau. Roger A. Hart đã đưa ra 8 mức độ khác nhau của “thang tham gia” mà HS có thể đạt được, đó là:
8 - HS khởi xướng và cùng GV quyết định: là khi dự án, hoạt động hoặc chương trình do HS khởi xướng và việc ra quyết định sẽ được chia sẻ giữa HS và GV. Những dự án/hoạt động này trao quyền cho các em đồng thời giúp các em có thể tiếp cận và học hỏi kinh nghiệm sống và kỹ năng của GV.
7 - HS khởi xướng và điều hành: là khi HS khởi xướng và điều hành dự án, hoạt động hoặc chương trình. GV chỉ tham gia với vai trò hỗ trợ.
6 - GV khởi xướng, quyết định cùng với HS: Là khi dự án, hoạt động hoặc chương trình được GV khởi xướng nhưng việc ra quyết định được chia sẻ với các em.
5 - HS được hỏi ý kiến và được thông báo: Là khi HS đưa ra ý kiến về dự án, hoạt động hoặc chương trình do GV xây dựng và thực hiện. HS được thông báo là ý kiến đóng góp của các em sẽ được sử dụng như thế nào và kết quả của quyết định do GV đưa ra.
4 - HS được giao nhiệm vụ và được thông báo: Là lúc mà trẻ được giao một vai trò cụ thể và được thông báo là trẻ sẽ được tham gia như thế nào và tại sao.
3 - Hình thức tượng trưng: Là lúc HS có vẻ như được có tiếng nói nhưng trong thực tế các em có rất ít hoặc không có sự chọn lựa là phải làm gì hoặc tham gia như thế nào.
2 - Hình thức trang trí: Là lúc trẻ được sử dụng để trợ giúp hoặc “cổ động” cho việc gì đó một cách tương đối gián tiếp, mặc dù GV không làm ra vẻ như việc đó do chính HS đưa ra.
1 - GV điều khiển: Là lúc GV sử dụng HS để hỗ trợ những ý định hoặc việc làm của mình và làm ra vẻ như những điều đó do chính HS đưa ra.
Như vậy, theo thang này thì ở các mức từ 1 - 3 là những mức độ HS không có sự tham gia. Chỉ bắt đầu từ mức 4 mới thể hiện sự tham gia của các em vào quá trình hoạt động dạy học - giáo dục.
3. Tăng cường những nội dung sinh hoạt có liên quan đến các công việc chung của lớp, phù hợp với nhu cầu và sở thích của học sinh.
Mỗi lớp, mỗi tập thể đều có những công việc chung cần giải quyết, ví dụ như xây dựng các qui định riêng của lớp, xác định chỉ tiêu thi đua, xử lí các tình huống nảy sinh trong tập thể lớp…., vì thế cần để cho HS tự thảo luận, trao đổi và quyết định. Mục đích là nhằm nâng cao bầu không khí đoàn kết, tinh thần trách nhiệm …. của mỗi học sinh trong lớp. Một tập thể lớp đoàn kết với từng thành viên có tinh thần trách nhiệm cao sẽ là môi trường giáo dục tốt nhất cho từng học sinh. Ngoài ra việc thường xuyên thu hút các em vào quá trình bàn bạc chung sẽ dần dần tạo ra ở các em lòng tin vững chắc rằng chúng có vị trí nhất định trong lớp và chúng sẽ cố gắng nỗ lực và hợp tác với mọi thành viên để hoàn thành công việc được giao.
4. Đảm bảo giao lưu dưới hình thức đối thoại.
Giao lưu giữa HS có ý nghĩa rất quan trọng đối với quá trình giáo dục. Chính thông qua giao lưu với bạn, mà năng lực hiểu người khác, hiểu bạn của mỗi HS được xây dựng và do đó năng lực hiểu bản thân mình được hình thành và năng lực tự ý thức, cơ sở của tự giáo dục được phát triển. Trong quá trình giao lưu, các em trao đổi với nhau những quan điểm, tư tưởng, hứng thú, tâm trạng, xúc cảm...và từ đó có tác động lẫn nhau. Trên cơ sở của những hiểu biết về nhau, HS mới dễ dàng cảm thông, chia sẻ và giúp đỡ lẫn nhau, tạo nên bầu không khí lớp học đoàn kết, cởi mở và thân thiện..
Trong quá trình bàn bạc các công việc chung của lớp trong tiết sinh hoạt tập thể dưới hình thức giao lưu-đối thoại sẽ phát triển được bầu không khí thuận lợi cần thiết cho giáo dục, giúp mọi HS tin tưởng và không sợ hãi về mặt tâm lí. Các em sẵn sàng đưa ra những quan điểm, chính kiến của mình, sẵn sàng nghe và tiếp nhận những ý kiến của người khác một cách tôn trọng...Giao lưu-đối thoại sẽ phát triển ở mọi HS lòng tin vào sức lực cá nhân, phát triển thái độ phê bình đối với bản thân, sự tôn trọng đối với các bạn, tính sẵn sàng giải quyết có sáng tạo các vấn đề đặt ra và niềm tin vào khả năng giải quyết chúng.
5. Cần khen chê học sinh một cách hợp lí trong giờ sinh hoạt lớp.
Thầy cô biết khen - chê đúng mực sẽ khiến học trò hứng thú trong học tập
Về nguyên tắc, khen phải nhiều hơn chê để tạo tâm lý tích cực vì ai cũng thích khen.
Một vài qui tắc đơn giản cho việc xây dựng hành vi tích cực là:
- Khen ngợi cụ thể: Nếu bạn khen một cách cụ thể, chúng có thể xác định được điều này là đúng.
Ví dụ, “Em đã lắng nghe Thành khi bạn ấy thật sự cần em lắng nghe. Em đúng là một người bạn tốt”. Hoặc, “Ô, nhóm này biết cách cộng tác tốt ghê!”
“Khen ngợi cụ thể” không nhất thiết phải là tán dương, ca tụng - điều tích
cực có thể chuyển tải chỉ qua thái độ và giọng nói của người lớn; còn ngôn từ chỉ có tác dụng mô tả thêm.
Khen ngợi cụ thể là một công cụ hướng dẫn tuyệt vời ở chỗ nó có thể chỉ ra những thông số trọng yếu đối với việc hoàn tất thành công một công việc. Ví dụ, “Em đã nhớ được câu chủ đề trong phần đầu đoạn văn đó”, hoặc “Tôi thích cách vẽ những màu sậm từ bên này sang bên kia trong bức tranh”.
Khen ngợi cụ thể có thể được sử dụng như là một bước giúp học sinh phát huy tiềm lực nội tại. Khi một học sinh hỏi bạn điều gì đó có tốt hay không, và bạn biết em đó đã nhận được lời khen cụ thể - vì thế HS biết được những thông số then chốt, quan trọng cho công việc ấy - hãy nhìn cậu và mỉm cười, ngầm nói rằng điều đó là tốt và nói: “Em hãy cho tôi biết những cái hay, cái tốt của việc đó đi”.
- Khen ngợi cụ thể, và gọi tên các phẩm chất
Những ví dụ cho việc này là: “Tôi thích cách thức em vừa giúp đỡ bạn Hiền. Em đã mang lại cho bạn ấy niềm hạnh phúc”, “Em đã không đánh bạn khi bị chế nhạo. Em vẫn giữ được lòng tự trọng và mạnh mẽ. Thật tốt cho em!” Hoặc “Tôi đánh giá cao sự tự nguyện giúp đỡ của em. Em rất có tinh thần hợp tác”.
Học sinh thường nhớ đến những phẩm chất nào mà bạn nói rằng chúng có. Sự công nhận của bạn đối với những phẩm chất của chúng có thể là rất quan trọng. Nó có thể mở ra cơ hội cho những ai cảm thấy bất lực - thay đổi quan điểm của mình từ tiêu cực sang tích cực. Biết được những phẩm chất của chính mình là nền tảng quan trọng cho lòng tự trọng và quý trọng bản thân.
- Lời khen chân thật
Con người chúng ta rất nhanh chóng đón bắt được những cảm xúc từ phía người khác. Lời nói có thể được phân thành những loại như chấp nhận, khích lệ hoặc tán thưởng, nhưng để có được hiệu quả tích cực, lời nói phải có tính chân thật.
Đôi khi, có những giáo viên thất vọng vì những hành vi của học sinh trong lớp lại tin rằng mình có thể nói lời khen, và họ nói với cảm xúc giận dữ: “Tôi thích cái kiểu trật tự của những học sinh phía bên này đây”. Những cảm xúc của con người là yếu tố quan trọng nhất cho sự cân bằng. Tức giận chỉ khơi dậy thêm sự phẫn nộ và thù hằn. Làm sao ta có thể sống trong một bầu không khí lo âu, bị kiểm soát bởi sự sợ hãi và phẫn nộ? Chúng ta sống sót, nhưng có vui vẻ, hạnh phúc không? Không gì có thể thay thế được sự trân trọng và tình yêu thương.
- Khen ngợi và khích lệ luôn tạo nên những cảm xúc tích cực nơi người
nhận
Đôi khi người ta thật sự cố gắng khen hoặc khuyến khích, động viên nhưng lại kết thúc bằng một câu tiêu cực làm hỏng hết những lời khen trước đó. Ví dụ, khi giáo viên nói với HS: “Em đã tập trung làm xong bài rất nhanh. Tốt lắm. Nếu lúc nào em cũng làm thế, bài vở mỗi ngày sẽ chẳng còn khó khăn nữa đâu.”. Lời nhận xét mở đầu rất tốt, nhưng khi nó chuyển sang giọng chỉ trích, hoặc nhắc lại những hành vi tiêu cực trong quá khứ, thì những cảm xúc tích cực thường nhanh chóng mất đi.
- Sự công nhận, khích lệ, khẳng định và khen ngợi hiệu quả thật sự sẽ để lại cảm giác vui vẻ trong tâm trí HS. Tuy nhiên, việc đưa ra lời công nhận tích cực cũng cần phải phù hợp với người nhận. Với học sinh, điều quan trọng là phải thay đổi giọng nói và cách nói tùy vào độ tuổi, tính cách của học sinh và mối quan hệ của bạn. Hãy quan sát phản ứng của HS để xem chúng có chấp nhận lời khen đó hay không, nhưng hãy tránh dùng những lời lẽ cầu kỳ, hoa mỹ.
Nhiều thiếu niên giống như những quả “trứng luộc”: bên ngoài cứng, bên trong mềm. Chúng dường như không chú ý đến lời khen của bạn - có thể giả lơ với cái vẻ khô khan bề ngoài - nhưng bạn vẫn biết được lời khen ấy phát huy tác dụng khi thấy hành vi tốt đó vẫn gia tăng, khi chúng muốn dành nhiều thời gian để ở gần bạn, hoặc khi cái vẻ lạnh nhạt trên gương mặt chúng dần biến mất. Đối với những học sinh “khô cứng” ấy, hãy dành tặng những lời khen có vẻ khô khan và thản nhiên (như “Không tệ lắm đâu!”) hoặc chỉ đưa ra ít lời ghi nhận thôi. Bạn có thể tăng dần mức độ tích cực, cởi mở khi HS trở nên “mềm” hơn. Hãy quan sát sự thay đổi hành vi của chúng. Nếu chúng đến gần bạn nhiều hơn và hành vi tăng trưởng theo chiều hướng của lời khen, thì cách khen của bạn được xem là tích cực.
Khi một hành vi mới xuất hiện lần đầu tiên, hãy khen ngợi ngay. Một hành vi tích cực mới xuất hiện rất cần nhận được lời phản hồi tức thì. Một số học sinh không chịu làm bài trừ khi có ai đó ngồi bên cạnh chúng. Do vậy, chúng thường học yếu. Hãy tập cho chúng kiểu hành vi mới bằng cách giải quyết vấn đề thứ nhất cùng với chúng, rồi nói: “Em biết cách làm nào rồi đấy. Tốt lắm! Khi em làm xong ba bài này, hãy giơ tay lên nhé!”. Cho điểm ngay sau bài tập thứ ba. Khi bạn tiếp tục củng cố tinh thần HS, hãy tăng số lượng bài tập nó phải làm trước khi bạn trở lại. Trong một thời gian ngắn, đứa học trò ấy sẽ biết tự giác làm bài hơn và học khá hơn.
Chúng ta cần khen ngợi thường xuyên hơn để thiết lập một kiểu mẫu hành vi mới. Nhưng đến khi hành vi này đã trở thành thói quen, hãy giảm dần sự khen ngợi. Đôi khi, bạn có thể khen cho những nỗ lực liên tục, ví dụ: vừa mỉm cười
vừa nói “Em đã nhớ làm bài mỗi ngày rồi đấy”.
Lời nói tiêu cực có thể làm tăng hành vi tiêu cực.
Đã là con người, hầu hết chúng đều có lúc ứng xử tiêu cực với người khác, quát tháo, nạt nộ người này hay người kia về một chuyện gì đó. Là giáo viên, chúng ta biết những ai sử dụng những lời lẽ tiêu cực hoặc thường xuyên quát mắng là những người có vấn đề thực sự - với con cái của họ, và với lớp học.
Một nghiên cứu lý thú đã được thực hiện với những bậc cha mẹ cách đây nhiều năm. Người ta thấy rằng khi cha mẹ dành 20 giây chú ý tiêu cực đến một hành vi tiêu cực, điều đó sẽ củng cố mạnh mẽ thêm cho hành vi tiêu cực đó. Chính hành vi tiêu cực mà họ muốn giảm đi lại thực sự tăng thêm khi phụ huynh la mắng đứa trẻ quá 20 giây.
Thật dễ hiểu khi chúng ta xem xét trên phương diện tình cảm. Người lớn và trẻ em đều phản ứng một cách đau đớn và tức giận khi nhận được nhiều điều tiêu cực. Khi bị trừng phạt về mặt thể chất và tình cảm, lòng thù hận sẽ càng gia tăng. Nếu điều này xảy ra thường xuyên, một số người không chỉ bực tức với biện pháp trừng phạt mà còn nung nấu ý định trả thù. Hình thức trả thù có thể lộ liễu, dễ dàng nhìn thấy qua thái độ, lời lẽ tiêu cực, thiếu tôn trọng hoặc hành vi bạo lực. Hoặc trả thù có thể kín đáo, biểu hiện qua việc ít nỗ lực hoặc thất bại có chủ tâm.
6. Trong giờ sinh hoạt lớp cần thiết kế nội quy lớp học dựa trên tinh thần cộng tác.
Điều thiết yếu là cần phải có những nội quy hoặc những khuôn mẫu hành vi cho lớp học. Không nhất thiết phải thiết lập chúng một cách cộng tác. Tuy nhiên, nếu làm như thế này thì sẽ rất tốt cho cả học sinh lẫn giáo viên - xây dựng mối quan hệ hợp tác và gia tăng ý thức tự chủ của học sinh. Ngoài ra, học sinh cũng học được những kỹ năng giao tiếp và khám phá về mặt nhận thức tại sao một số nội quy là quan trọng. Trong khoảng hai tuần đầu tiên của lớp học, giáo viên cũng muốn học sinh tham gia vào các quyết định khác, ví dụ xem chúng muốn tổ chức lớp học như thế nào và chúng muốn làm gì.
Một phương pháp hợp tác để xây dựng “Hướng dẫn hành vi ứng xử cho học sinh” hoặc “Nội quy lớp học” là phải hướng dẫn học sinh thảo luận những quy định nào chúng muốn có trong lớp học. Tạo điều kiện cho chúng tham gia vào các quyết định về những nội quy nào nên có. Ví dụ, tổ chức thảo luận về nội dung “Đây là lớp học của chúng ta. Tôi muốn các em tham gia xây dựng nội quy lớp. Vậy, các em muốn các nội quy đó phải như thế nào?”.
Hãy lắng nghe những gì học sinh nói và giúp chúng đưa ra các nội quy theo cách tích cực.
Nếu một học sinh đưa ra luật “Không đánh nhau” hoặc “Không chế nhạo”, bạn có thể nói “Em có thể đặt lại một câu tích cực hơn không? Tốt hơn là không dùng chữ “Không” trong nội quy.”, hoặc “Hãy cho tôi một câu nêu ra điều mà chúng ta muốn mọi người thực hiện”. Cho học sinh những ví dụ khi cần thiết trong khi đó vẫn chấp nhận những gì các em đưa ra bằng cách lặp lại điều họ nói. Ví dụ, “À! Như vậy là các em muốn có điều luật: Phải có hành vi tôn trọng người khác.”, hoặc “Em nghĩ rằng mọi người phải thu tay chân lại là một quy định hay”. Và “Em đưa ra một luật là: Hãy nói điều tích cực với người khác”.
Yêu cầu học sinh đặt ra 3 hoặc 4 quy định, không quá 5. Giáo viên có thể thêm vào một nội quy nào đó mà học sinh bỏ sót. Chia sẻ với HS tại sao bạn thích thêm vào quy định ấy. Hãy treo những điểm nội quy này trong lớp học. Thậm chí có thể giao cho học sinh thiết kế những tấm áp phích khác nhau - một dành cho việc nói năng, một cho việc lắng nghe, một cho học tập và một cho hành động.
Giáo viên phải cảm thấy thoải mái với tất cả nội quy
Nếu học sinh đang cố vượt giới hạn và đề nghị những quy định không thể làm được, ta hãy thành thật cho chúng biết rằng có một số việc chúng không được phép làm. Hãy giải thích rõ những giới hạn. Hãy chia sẻ lý do nếu như bạn cảm thấy thoải mái khi làm vậy. Ví dụ, “Tôi nghĩ rằng tôn trọng người khác là một quy định rất cần thiết. Nó cho phép các em tự do đạt điều mình mong muốn và an toàn để cố gắng. Chẳng hạn như nó cho tôi sự tự do để vui vẻ với các em và dạy dỗ các em! Tôn trọng mọi người là một luật phải có trong lớp chúng ta. Làm tổn hại người khác thì không hay chút nào và các em không được phép làm.”
IV/KẾT QUẢ
Trước đây, trong quá trình làm công tác chủ, trong các giờ sinh hoạt lớp các tôi thường chỉ áp dụng một hình hình sinh hoạt dập khuôn từ đầu năm đến cuối năm học HS ít được tham gia vào các tiết sinh hoạt chủ yếu là cán bộ lớp, GV chủ nhiệm cũng ít gần gũi với HS, khen HS thì ít mà nhắc nhở phê bình thì nhiều. Và kết quả thu được là số HS vi phạm nội quy trong lớp không giảm mà có xu hướng tăng lên.
Trong năm học này do tích cực đã tích cực đổi mới phương pháp chủ nhiệm đặc biệt là trong giờ sinh hoạt lớp tôi đã đạt được kết quả tương đối khả quan: Số HS vi phạm nội quy giảm dần theo từng tháng, lớp từ vị trí thi đua xếp thứ cuối trường đã dần tăng lên về thứ bậc. Điều này được thể hiện rõ ở kết quả thi đua của lớp và kết quả xếp loại hạnh kiểm của HS qua các tháng.
Bảng kết quả điều tra phiếu 2 ở HS lớp 7C ( sau khi áp dụng đề tài)
Nội dung điều tra phiếu 2 | Số HS | Tỉ lệ % | |
Câu 1: Em có thích tiết sinh hoạt lớp không? | Rất thích | 20 | 69 |
Thích | 6 | 20,7 | |
Bình thường | 3 | 10,3 | |
Không thích lắm | 0 | 0 | |
Rất ghét | 0 | 0 | |
Câu 2: Vì sao em thích tiết sinh hoạt lớp? | Vì em cảm thấy thoải mái | 2 | 6,9 |
Vì em được tham gia vào Đăng ký thành công. Chúng tôi sẽ phản hồi hoặc liên hệ lại với bạn trong thời gian sớm nhất. |